language
TIN TỨC

Xác định độ ẩm trong dược phẩm

Xác định độ ẩm là một một chỉ tiêu kiểm soát chất lượng quan trọng trong sản suất dược phẩm, từ kiểm tra nguyên liệu đầu vào và kiểm soát trong quá trình sản xuất đến việc kiểm tra chất lượng của thuốc thành phẩm.

chuẩn độ karl fischer
chuẩn độ karl fischer

Xác định độ ẩm trong dược phẩm

Xác định độ ẩm là một một chỉ tiêu kiểm soát chất lượng quan trọng trong sản suất dược phẩm, từ kiểm tra nguyên liệu đầu vào và kiểm soát trong quá trình sản xuất đến việc kiểm tra chất lượng của thuốc thành phẩm. Việc xác định độ ẩm được xem như là một qui trình thử nghiệm dược lý, nó cũng là một trong những thông số chất lượng quan trọng trong kiểm tra độ ổn định của thuốc.
Độ ẩm trong nguyên liệu thô: là một yếu tố quan trọng trong quá trình pha trộn và tạo hạt trong sản xuất thuốc. Độ ẩm ảnh hưởng đến tính chất dòng chảy tổng thể và độ đặc của bột trộn. Đối với viên nén và viên nang thành phẩm, độ ẩm là một trong những thông số chất lượng tính đến độ bền cơ học, độ hòa tan và độ ổn định của thời hạn sử dụng nói chung.

Xác định độ ẩm nhằm kiểm soát chất lượng quá trình sản xuất

Có rất nhiều loại viên nén khác nhau. Dựa trên phương pháp tạo cốm dập viên trong sản xuất, có 3 phương pháp sản xuất viên nén (bao gồm cả hoạt chất và tá dược) đó là: viên nén có thể được chia làm 3 loại chính là: viên dập thẳng, viên nén tạo hạt ướt và viên tạo hạt khô. Trong đó, nghiền nhỏ là một bước quan trọng tiên quyết chung cho cả sản xuất viên nén và viên nang.

Với quá trình viên nén tạo hạt ướt, khối bột được làm ẩm trước tiên. Sau đó, tiến hành rây hạt, sấy và sửa hạt. Các hạt sau sấy phải đạt được đến một độ ẩm nhất định theo yêu cầu mới có thể đem dập viên. Tại điểm quan trọng này trong quá trình, độ ẩm còn lại bắt buộc phải được kiểm soát. Nếu hạt quá ẩm, viên nén sẽ không đạt yêu cầu về độ cứng. Khi bảo quản, vi sinh vật dễ có điều kiện phát triển. Đồng thời, chất lượng dược chất có thể bị biến đổi do sự có mặt của nước.

Dù trong sản xuất viên nén loại nào thì việc xác định hàm lượng ẩm trong hỗn hợp vật liệu phải được kiểm soát cẩn thận để đảm bảo hình dạng tổng thể, độ bền, độ hòa tan và thời hạn sử dụng của viên nén. Là một yếu tố chất lượng quan trọng, xác định độ ẩm cần được thực hiện trước khi ép viên. Nếu hỗn hợp quá khô, viên nén sẽ không bền và nếu quá ướt, viên nén sẽ không đạt độ cứng yêu cầu.

Trong sản xuất viên nang làm từ gelatin, độ ẩm là một thông số chất lượng quan trọng để giữ độ bền và độ hòa tan của viên nang. Độ ẩm thường được xác định trong bột gelatin thô và viên nang gelatin rỗng.

Xác định độ ẩm nhằm kiểm soát chất lượng đầu ra

Việc kiểm tra độ ẩm trong viên nén và viên nang chịu sự quản lý của các quy định dược hiện hành. Có thể tiến hành kiểm tra khối lượng giảm sau sấy bằng tủ sấy thông thường. Tuy nhiên, việc kiểm tra độ ẩm bằng phương pháp sấy khô thường mất ít nhất từ hai đến ba giờ. Việc này đôi lúc gây chậm trễ tiến độ sản xuất vì kết quả hàm lượng ẩm rất quan trọng đối với quá trình sản xuất và xuất xưởng. Ngoài phương pháp sấy khô, cũng có các phương pháp xác định độ ẩm khác nhanh chóng hơn.

Các phương pháp xác định độ ẩm bằng sấy khô 

Xác định độ ẩm bằng phương pháp sấy khô

tủ sấy xác định hàm lượng ẩm memmert
Tủ sấy dùng xác định độ ẩm thông thường

 Xác định độ ẩm bằng cân sấy ẩm

top cân sấy ẩm dùng xác định độ ẩm trong dược phẩm
Cân sấy ẩm dùng xác định độ ẩm trong dược phẩm

Nguyên tắc hoat động:

Mẫu được sấy ở nhiêt độ và thời gian sấy tùy theo yêu cầu của dược điển. Độ ẩm của mẫu được tính là độ hao hụt khối lượng trong quá trình sấy.

Thiết bị dụng cụ: 

-   Cân phân tích (có thể cân chính xác đến 1 mg)
-   Tủ sấy thông thường hoặc tủ sấy có điều chỉnh áp suất , hút chân không
-   Bình hút ẩm
-   Chén cân: bằng thủy thủy tinh, hoặc sứ, có nắp.
Lưu ý:
-   Thời gian mẫu tiếp xúc với không khí càng ít càng tốt.
-   Nếu mẫu được bảo quản trong tủ lạnh thì phải đưa nhiệt độ của mẫu đến nhiệt độ phòng trước khi cân.
-   Phải đóng cửa tủ trong suốt quá trình sấy
Ưu điểm: phương pháp tham chiếu, không đòi hỏi máy móc chuyên biệt, có thể kết hợp với tủ sấy của phòng kiểm nghiệm. 
Nhược điểm: tốn nhiều thời gian

Nguyên tắc hoạt đông:

Cân sấy ẩm là máy đo độ ẩm hoạt động dựa trên nguyên tắc hao hụt khi sấy khô (viết tắt là LoD), là phương pháp tiêu chuẩn dùng để xác định độ ẩm của vật để thực hiện sấy khô các mẫu vật bên trong cân.

Thiết bị dụng cụ: 

-   Cân sấy ẩm  

Ưu điểm của phương pháp xác định độ ẩm bằng cân sấy ẩm:
-   Nhỏ gọn so với tủ sấy thông thường, dễ di chuyển
-   Kết quả phân tích nhanh chóng chính xác, độ lặp tốt
-   Có thể kết nối máy tính theo dõi quá trình sấy

Lưu ý:
Đối với thuốc viên cần chuyển mẫu thành hỗn hợp bột

 

* Một số nhiêt độ sấy thông thường của các thuốc/ hoạt chất:

  • Chiết xuất cimicifugin khô, Viên nén sủi bọt (90°C)
  • Viên nang gelatin, Viên nén multivitamin, Dihydralazine sulfate-2,5-hydrate, Ca methyltetrahydrofolate(120°C).
  • Quinine sulfate, Niclosamit monohydrat, Viên nén đóng gói bằng giấy bạc(130°C),
  • Quinine hydrochloride (135°C),
  • Hỗn hợp tinh bột-axit stearic, Fe fumarate và Fe gluconate, Hỗn hợp amino axit (140°C),
  • Viên nén chứa tinh bột, Levothyroxin natri, Metamizole natri, Cysteine hydrochloride monohydrat, Cyproheptadine hydrochloride, Carbidopa (150°C),
  • N- (omega) nitro-L-arginine (160°C)
  • Viên nén kháng sinh, Morphin hydrochloride, Ethacridine lactate monohydrate, Metixene hydrochloride, Quinidine sulfate , (180°C)
  • Serotonin, Bupivacaine hydrochloride, Histidine hydrochloride monohydrate (200°C),

Xác định độ ẩm bằng phương pháp chuẩn độ Karl Fischer

Nguyên tắc :

Chuẩn độ Karl Fischer là một phương pháp chuẩn độ (điện thế) dùng để xác định hàm lượng nước cho mẫu lỏng, rắn. Phương pháp Karl Ficsher cũng là phương pháp tiêu chuẩn để xác định hàm hượng nước trong mẫu dược phẩm.  

Thiết bị:

Phương pháp được dùng cho mẫu dược chủ yếu là Volumetric Karl Ficsher (>95% cho các mẫu dược)
Phạm vi ứng dụng, dung môi và điều kiện phân tích cho một số dược phẩm
Các tiêu chuẩn quan trọng được sử dụng đó là: Dược điển Châu Âu (EP - European Pharmacopoeia), Dược điển Hoa Kỳ (UP - US Pharmacopoeia) trong đó có thông tin chi tiết về cỡ mẫu/ trọng lượng mẫu, phạm vi hàm lượng nước được phép và thuốc thử sử dụng.

Theo Dược điển Châu Âu EP:

  • -   Methanol và pyridine được chọn là dung môi (xem thêm các dung môi dành cho phân tích hàm lượng ẩm trong dược chất tại đây), xác định hàm lượng nước của các chất sau bằng phương pháp chuẩn độ trực tiếp Volumetric Karl Ficsher: Pyrazolone, cipofloxacin hydrochloride, effortil, folic acid, nicotinic acid và scopolamine hydrobromide.
  • -   Trong metanol ở 50°C: xác định hàm lượng nước trong Glucose, muối axit Na-hyaluronic, lysine acetylsalicylate, axit acetylsalicylic, Ca folinate và lactose monohydrate.
  • -   Hàm lượng nước của các chất sau đây đã được xác định trong hỗn hợp dung môi (một số trường hợp sau khi đun nóng đến 50 ° C)
+ Mannitol và sorbitol (methanol / formamide 2: 1)
+ Erythromycin (pyridine)
+ Isomalt, glucosylmannitol / glucosylsorbitol (metanol / formamit 1: 1, mẫu nền)
+ Mg aspartat, Mg lactat, Ca glycerophosphat, coffein (metanol / formamit 2: 1, 50°C)
+ Glyxerol monostearat và suppositories  (metanol / cloroform 2: 1)
+ Lanolin (metanol / cloroform 1: 1)
+ Axit photphoric serine (metanol /formamide 2: 1, 50°C)
+ Chiết xuất thảo mộc (methanol / formamide 2: 1)

Một số lưu ý cho các loại thuốc/ dược chất cụ thể: 

  • -   Với một số sản phẩm hoặc chất, phản ứng phụ có thể xảy ra nếu tiến hành chuẩn độ trực tiếp trong metanol (do thay đổi độ pH của hệ thống chuẩn độ Karl Fischer, quá trình oxy hóa bằng iot, độ hòa tan kém trong metanol,...). Nếu những mẫu như vậy không thể được xác định bằng phương pháp gia nhiệt thì chúng ta có thể thử thực hiên trong hệ dung môi metanol / cloroform.
  • -   Trong viên ngậm, xác định hàm lượng nước theo cách tương tự, mẫu được hòa tan trong formamide dưới sự gia nhiệt nhẹ nhàng sau đó được chuẩn độ với thuốc thử Karl Fischer, riêng biệt cho các anđehit và xeton.
  • -   Bismuth subnitrat : mẫu hòa tan trong metanol, dung dịch nổi phía trên tách ra được chuẩn độ. 
  • -   Pentanol có độ nhớt cao, được pha loãng với metanol và khoảng 2 g hỗn hợp được chuẩn độ bằng thuốc thử Karl Fischer riêng biệt cho anđehit và xeton.
  • -  Đối với amoxicillin, penicillin G, dobutamine hydrochloride monohydrate, arginine aspartate và norepinephrine hydrochloride, 30 mL metanol + 5 g axit salicylic được thêm vào trong quá trình chuẩn độ
  • -   Đối với S-cacboxymetyl-L-cysteine, 20 mL hỗn hợp metanol / formamit 1: 1 được đặt trong bình chuẩn độ với 5 mL dung dịch đệm Karl Fischer và được chuẩn độ đến khô.
  • -   Với axit adenosine-5'-triphosphoric, muối dinatri imidazole (khoảng 3 g) được thêm vào metanol trong cell chuẩn độ để ổn định pH của hệ thống Karl Fischer
  • -   Vitamin C (axit ascorbic) và ascorbates bị oxy hóa bởi iốt trong thuốc thử Karl Fischer dẫn đến sai số dương Do đó, metanol được thêm vào bình chuẩn độ Mẫu sau đó được chuẩn độ bằng dung dịch Iốt metanol.
  • -   Lindane chứa clo tự do và hàm lượng nước của nó cũng phải được xác định bằng thuốc thử Karl Fischer tỷ lệ riêng: 25 mL môi trường làm việc (SO2 + bazơ trong metanol) 2g mẫu được thêm vào, khuấy trong 5 phút và hàm lượng nước sau đó được xác định bằng cách chuẩn độ với dung dịch iốt.
  • -  Đối với N-acetylcystein, 20 mL metanol + 5 mL dung dịch đệm Karl Ficsher + 1 g N-metylmaleinimide được cho vào bình chuẩn độ và được chuẩn độ đến khô bằng dung dịch Karl Fischer. Khoảng 1 g mẫu được thêm vào, dung dịch được khuấy trong 5 phút và lượng nước sau đó được chuẩn độ.

Nguồn tham khảo: 
http://www.pharmabiz.com/ArticleDetails.aspx?aid=136662&sid=9
www.metrohm.vn



 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây